Tháng 7/2021, đợt dịch COVID-19 thứ tư đổ vào TP.HCM và các tỉnh công nghiệp phía Nam với tốc độ chưa từng thấy. Các nhà máy đứng trước hai lựa chọn: đóng cửa, hoặc tách dây chuyền khỏi thế giới bên ngoài. Lựa chọn thứ hai có một cái tên ngắn gọn, "ba tại chỗ": sản xuất tại chỗ, ăn tại chỗ, nghỉ ngơi tại chỗ. Phương án thay thế nhẹ hơn là "một cung đường, hai điểm đến", công nhân chỉ đi giữa nơi ở và nhà máy bằng xe đưa đón1.

Chỉ riêng các khu chế xuất, khu công nghiệp và khu công nghệ cao ở TP.HCM, tới ngày 23/7 đã có 618 doanh nghiệp đăng ký "ba tại chỗ" với 57.507 lao động. Sau kiểm tra, 414 doanh nghiệp với 44.145 lao động được chấp thuận1. Ở Đồng Nai, hơn 1.150 doanh nghiệp với khoảng 136.000 công nhân đăng ký một trong hai phương án2.

Những tuần đầu

Về mặt dịch tễ, mô hình có hiệu quả thấy rõ. Theo Bộ Công Thương, số ca nhiễm trong các khu công nghiệp TP.HCM giảm từ hàng trăm ca mỗi ngày xuống khoảng 30 ca, và trong hai ngày 20 và 21/7 chỉ ghi nhận 10 ca mới1.

Nhưng nhà xưởng không được thiết kế để người ta sống trong đó. Các doanh nghiệp dệt may, da giày, những ngành đông lao động nhất, nói thẳng rằng việc lo ăn ở tập trung cho công nhân rất khó. Chỗ vệ sinh, tắm giặt không đủ cho hàng trăm người sinh hoạt dài ngày. Chi phí ăn uống, xét nghiệm định kỳ, vật tư phòng dịch dồn hết lên doanh nghiệp2.

Công nhân và quản lý đứng thành hàng trong xưởng lắp ráp ô tô ở TP.HCM
Công nhân một nhà máy lắp ráp ô tô ở TP.HCM năm 2016. Năm năm sau, những xưởng như thế phải chọn giữa đóng cửa và "ba tại chỗ". Ảnh: namisito · CC BY-SA 4.0 · Wikimedia Commons

Phần khó nhất lại không nằm trong bảng chi phí. Theo VnEconomy, sau khoảng hai tuần, tâm lý công nhân bắt đầu bất ổn: sợ lây nhiễm khi ở chung đông người, căng thẳng vì bị giữ trong khuôn viên nhà máy, lo cho con nhỏ và cha mẹ ở phòng trọ hay ở quê. Phần lớn lao động trong ngành may và da giày là phụ nữ, chịu áp lực kép từ công việc và gia đình. Hàng chục doanh nghiệp "ba tại chỗ" vẫn xuất hiện ca F02.

Đầu tháng 8, ở Bình Dương, 204 doanh nghiệp trong khu công nghiệp với 61.000 lao động xin dừng mô hình "ba tại chỗ"2.

57.507lao động ở TP.HCM đăng ký "ba tại chỗ" tính đến 23/7/2021
204doanh nghiệp Bình Dương xin dừng mô hình vào đầu tháng 8
1,3 triệulao động về quê từ 15/7 đến 15/9/2021

Đoàn xe máy về quê

Trong khi đó, bên ngoài các nhà máy, hàng trăm nghìn công nhân đã mất thu nhập, sống trong những khu trọ chật chội, nơi nguy cơ lây nhiễm cao nhất. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê được VnExpress dẫn lại, từ 15/7 đến 15/9/2021 có khoảng 1,3 triệu lao động rời các thành phố lớn về quê3.

Đầu tháng 10, khi các chốt kiểm soát được nới, những đoàn xe máy nối dài trên quốc lộ. VnExpress ghi lại câu chuyện của một công nhân 31 tuổi quê Kiên Giang, sau 13 năm ở TP.HCM, chở vợ đang mang thai và con gái về quê, và kể rằng đó là lần đầu tiên anh thấy mình không còn gì ràng buộc với thành phố. Một cặp vợ chồng trẻ người Lào Cai đi gần 2.000 km trong ba ngày bốn đêm từ Bình Dương, có ngày chỉ ăn hai gói mì3. Nghệ An đón khoảng 87.000 người, Sóc Trăng 50.000, An Giang và Kiên Giang mỗi tỉnh khoảng 40.0003.

Khi thành phố mở cửa trở lại

Cuối tháng 9, các địa phương bắt đầu nới giãn cách, và doanh nghiệp nhận ra vấn đề tiếp theo: không có người làm. Riêng Bình Dương dự kiến thiếu 40.000 đến 50.000 lao động. Trong 18 triệu lao động của 19 tỉnh phía Nam, chưa tới một phần ba giữ được việc làm ổn định trong đợt dịch4. Thứ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Hồi giải thích làn sóng ra đi bằng áp lực chi phí sinh hoạt và tâm lý kéo dài trong những khu trọ đông đúc, nơi nguy cơ lây bệnh cao4.

Những doanh nghiệp muốn đón người quay lại phải làm những việc trước đây ít khi nằm trong kế hoạch nhân sự: bố trí xe đưa công nhân từ quê lên, lo chỗ ở, hỗ trợ trông trẻ và việc học của con công nhân, cải thiện bữa ăn, lập quỹ hỗ trợ khó khăn, và có chính sách ưu tiên lâu dài cho người gắn bó. Có nơi, chính lãnh đạo doanh nghiệp ở lại "ba tại chỗ" cùng công nhân4. Hiệp hội Dệt may Thêu đan TP.HCM khi ấy chỉ dám kỳ vọng 70 đến 80% lao động quay lại4.

Điều người làm nhân sự nên giữ lại

Năm 2021 cho thấy những thứ mà thời bình ít khi phơi bày. Hồ sơ nhân sự của phần lớn doanh nghiệp biết chức danh, bậc lương, ngày vào làm của công nhân, nhưng không biết họ ở đâu, sống cùng ai, con mấy tuổi, quê cách bao xa. Đó chính là những thông tin quyết định ai ở lại được và ai phải về khi khủng hoảng ập đến.

Nó cũng cho thấy chính sách giữ người không chỉ nằm ở lương. Khi cả khu công nghiệp cùng thiếu người, người lao động quay về nơi họ nhớ mình được đối xử tử tế trong lúc khó khăn nhất. Ký ức ấy không mua lại được bằng một khoản thưởng lúc mở cửa.