Nếu bạn từng ngồi trong một buổi thuyết trình về tương lai việc làm, nhiều khả năng bạn đã thấy slide này: đến năm 2030, công nghệ tạo ra 170 triệu việc làm mới và xóa đi 92 triệu việc làm hiện có, tăng ròng 78 triệu. Con số đến từ Báo cáo Tương lai Việc làm 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới1. Người trình bày thường dừng ở đó, với một nụ cười nhẹ nhõm: máy móc tạo ra nhiều việc hơn là lấy đi.

Phần đáng nhớ hơn nằm ở mục kỹ năng. Theo báo cáo, cứ 100 lao động trên toàn cầu thì 59 người sẽ cần được đào tạo lại hoặc nâng cấp kỹ năng trước năm 2030. Trong 59 người ấy, 11 người nhiều khả năng sẽ không được đào tạo, tương đương hơn 120 triệu người đối mặt nguy cơ dôi dư trong trung hạn1.

170 triệuviệc làm mới tới 2030, so với 92 triệu việc làm mất đi
59/100lao động cần đào tạo lại trước 2030
11/100nhiều khả năng sẽ không được đào tạo

Con số tăng ròng che mất câu hỏi quan trọng nhất: người mất việc ở chỗ này có phải là người nhận được việc mới ở chỗ kia không? Câu trả lời phụ thuộc gần như hoàn toàn vào việc ai được đào tạo lại, và khi nào.

Công ty đã từng đứng trước câu hỏi ấy

Năm 2013, ban lãnh đạo AT&T làm một phép tính khó chịu. Khoảng 100.000 nhân viên của họ đang làm những công việc gắn với phần cứng: lắp đặt, bảo trì, vận hành hệ thống cáp và tổng đài. Những công việc ấy nhiều khả năng sẽ không còn tồn tại trong vòng một thập kỷ, khi mạng lưới chuyển dần sang phần mềm và điện toán đám mây2. Lưu lượng dữ liệu của khách hàng AT&T đã tăng tới 250.000% kể từ khi iPhone ra đời năm 20073.

Lựa chọn dễ nhất là cắt giảm dần và tuyển kỹ sư phần mềm từ bên ngoài. AT&T chọn cách khác: một chương trình kéo dài nhiều năm, trị giá khoảng 1 tỷ đô la, mang tên Future Ready, để đào tạo lại gần một nửa lực lượng lao động cho những công việc công ty sẽ cần2.

Tòa nhà trụ sở AT&T ở Dallas
Trụ sở AT&T ở Dallas. Năm 2013, công ty tính ra khoảng 100.000 nhân viên đang làm những việc có thể biến mất trong một thập kỷ. Ảnh: FoUTASportscaster · Public domain · Wikimedia Commons

Chương trình gồm các khóa học trực tuyến, hợp tác với Coursera, Udacity và nhiều trường đại học. Trung tâm của nó là một cổng thông tin nghề nghiệp nội bộ, nơi mỗi nhân viên xem được công ty đang có những vị trí nào, cần kỹ năng gì, dải lương ra sao, và nhóm công việc ấy được dự báo sẽ tăng hay thu hẹp trong những năm tới2.

Chi tiết cuối cùng là phần thông minh nhất. AT&T không chỉ bảo nhân viên đi học. Họ cho nhân viên nhìn thấy cùng một bức tranh dự báo mà ban lãnh đạo đang nhìn, để mỗi người tự quyết định học gì và đi về đâu.

Phần khó mà ít bài viết kể

Future Ready không phải một câu chuyện cổ tích. Đào tạo lại ở quy mô ấy đòi hỏi nhân viên bỏ nhiều công sức để học, không phải ai cũng làm được hay muốn làm, và nó không bảo đảm mọi người đều giữ được việc. Điều công ty làm được là cho những người muốn chuyển đổi một con đường cụ thể, có thông tin, có tiền học, có vị trí đích, thay vì để họ tự xoay xở khi công việc cũ biến mất.

Đó chính là khoảng cách giữa con số 59 và con số 11 trong báo cáo của WEF. Không phải ai cũng sẽ được đào tạo lại, nhưng tỷ lệ ấy phụ thuộc rất nhiều vào việc doanh nghiệp có nhìn thấy trước và có mở đường hay không.

Người làm đào tạo ở Việt Nam nên dùng báo cáo này thế nào

Nếu bạn dùng báo cáo WEF trong bài trình bày với ban giám đốc, hãy dùng cặp số 59 và 11, đừng dùng con số tăng ròng 78 triệu. Con số ròng nghe nhẹ nhõm nhưng che mất phần mà bộ phận đào tạo có trách nhiệm: ai sẽ được đào tạo lại, và ai không.

Và hãy mượn câu hỏi mà AT&T đã đặt ra năm 2013: trong doanh nghiệp mình, những vị trí nào có thể không còn trong năm năm tới, và những người đang ngồi ở đó sẽ đi đâu?

Làm phép tính 59 và 11 cho doanh nghiệp của bạn

Tỷ lệ của WEF là con số toàn cầu, nhưng nó hữu ích như một điểm xuất phát để ước lượng. Một doanh nghiệp 500 người, áp dụng đúng tỷ lệ ấy, sẽ có khoảng 295 người cần được đào tạo lại hoặc nâng cấp kỹ năng trước năm 2030, và khoảng 55 người có nguy cơ không được ai đào tạo.

Câu hỏi đáng giá hơn là: 55 người ấy là ai? Thường họ không phải người yếu kém. Họ là người đang làm tốt một công việc sắp thay đổi, không có thời gian đi học, không được quản lý đề cử vào các chương trình phát triển, và không ai nói cho họ biết công việc của mình đang dịch chuyển ra sao.

Tìm ra nhóm này sớm là việc mà bộ phận nhân sự làm được bằng dữ liệu sẵn có: đặt danh sách vị trí có nguy cơ cao cạnh lịch sử đào tạo của từng người. Ai đang ở vị trí có nguy cơ mà ba năm qua chưa tham gia chương trình nào, người đó nằm trong nhóm 11.