Năm 1913, bộ phận tuyển dụng của Ford ở Highland Park, bang Michigan, làm một việc mà nhìn từ bây giờ giống một cỗ máy chạy không tải. Họ tuyển 50.448 người trong một năm. Số người làm việc bình quân của nhà máy khi ấy là 13.6232.
Nghĩa là cứ mỗi vị trí trên dây chuyền, công ty phải tuyển gần bốn lần trong năm. Các nhà kinh tế về sau gọi đó là tỷ lệ thay người 370%. Mỗi ngày còn có khoảng một phần mười công nhân vắng mặt2.
Trớ trêu ở chỗ đây lại là năm Ford thành công nhất về kỹ thuật. Tháng 10/1913, dây chuyền lắp ráp di động chạy lần đầu ở chính nhà máy này và rút thời gian làm một chiếc Model T từ 12 tiếng rưỡi xuống 93 phút1. Cỗ máy chạy nhanh chưa từng có. Chỉ có con người là không ở lại.
Vì sao người ta bỏ đi
Trước khi có dây chuyền, thợ ô tô là thợ thủ công. Một người lắp cả một cụm chi tiết và biết mình làm ra cái gì. Dây chuyền chia công việc ấy thành những thao tác lặp lại vài chục giây một lần. Theo bảo tàng The Henry Ford, nhiều người từng tự hào về tay nghề nhanh chóng chán cảnh đứng một chỗ vặn cùng một con ốc, bắt đầu đi trễ, nghỉ không phép, rồi nghỉ hẳn1.
Detroit khi đó không thiếu việc. Ai bỏ Ford sáng thứ Hai có thể vào xưởng khác chiều thứ Ba. Với Ford, mỗi lần như thế là thêm một người mới phải kèm, thêm một chỗ trống trên dây chuyền, mà dây chuyền thì không chờ ai.

Thông báo ngày 5/1/1914
Ngày 5/1/1914, công ty tuyên bố từ ngày 12/1 sẽ trả tối thiểu 5 đô cho một ngày làm 8 tiếng. Mức cũ khoảng 2,3 đô cho ngày 9 tiếng1,3. Tin lan khắp nước Mỹ. Chỉ vài ngày sau, hàng nghìn người đổ về Detroit. Đám đông trước cổng nhà máy lớn tới mức bạo loạn nổ ra và người ta dùng vòi rồng xịt nước giữa tháng Giêng để giải tán1. Từ đó Ford chỉ nhận người đã sống ở Detroit ít nhất sáu tháng.
Kết quả đến nhanh. Theo nghiên cứu của Daniel Raff và Lawrence Summers công bố năm 1987, tỷ lệ thay người rơi xuống 54% trong năm 1914 rồi 16% trong năm 1915, còn lợi nhuận thực của công ty vẫn tăng2. Hai nhà kinh tế coi đây là bằng chứng mạnh cho lý thuyết "lương hiệu quả": trả cao hơn thị trường có thể rẻ hơn, vì nó mua về sự ổn định, nỗ lực làm việc và một hàng dài người muốn vào.
Chính Henry Ford cũng nói thẳng như vậy trong hồi ký năm 1922, gọi mức 5 đô là "một trong những bước cắt giảm chi phí tốt nhất chúng tôi từng làm"3.
Phần ít được kể: 5 đô không hẳn là lương
Câu chuyện thường dừng ở đây và bỏ sót chi tiết quan trọng nhất. Trong 5 đô ấy, phần lương chỉ nhỉnh hơn giá thị trường chừng 15%. Phần còn lại là "chia lợi nhuận" trả trước, và nó có điều kiện3.
Người muốn nhận phải làm cho công ty đủ sáu tháng, và phải thuộc một trong ba nhóm: đàn ông có vợ con, sống cùng và chăm lo cho gia đình; đàn ông độc thân trên 22 tuổi có nếp sống tiết kiệm; thanh niên dưới 22 tuổi hoặc phụ nữ đang là người nuôi sống thân nhân3. Phụ nữ không thuộc nhóm cuối coi như đứng ngoài.
Rồi còn chuẩn mực trong nhà. Theo The Henry Ford, người nhận thưởng phải không rượu chè, không bạo hành gia đình, không cho người ngoài thuê trọ, giữ nhà cửa sạch sẽ và gửi tiết kiệm đều đặn1. Để kiểm tra, công ty lập một phòng riêng với khoảng 50 người đi xác minh. Họ đến tận nhà công nhân3.

Ford tự hào ghi lại rằng lúc đầu 60% công nhân đủ điều kiện, sau sáu tháng là 78%, sau một năm là 87%3. Con số ấy có thể đọc theo hai cách. Cách thứ nhất: chương trình khuyến khích được lối sống ổn định. Cách thứ hai: trong năm đầu, cứ mười người thì bốn người làm cùng dây chuyền nhưng nhận ít hơn hẳn, vì những lý do nằm ngoài công việc.
Nhìn bằng con mắt hôm nay, đây là sự can thiệp vào đời tư mà không bộ phận nhân sự nào được phép làm. Ford không chỉ tăng lương. Ông trả một cái giá rất cao để mua sự kiểm soát. Phần hiệu quả thật sự đến từ đâu, lương cao hay sàng lọc gắt gao, giới nghiên cứu tới giờ vẫn tranh luận.
Người làm nhân sự đọc gì từ câu chuyện 112 năm trước
Điều đáng học không nằm ở câu "trả cao thì giữ được người". Ai cũng biết vậy, và ít ai có ngân sách gấp đôi. Điều đáng học là cách Ford nhìn con số 370%. Họ không coi nó là việc phòng tuyển dụng phải chạy nhanh hơn. Họ quy nó ra tiền: tiền tuyển, tiền kèm người mới, sản lượng mất khi dây chuyền thiếu người quen việc. Đặt cạnh những khoản ấy, mức lương gấp đôi thành một khoản đầu tư có lãi.
Nhiều nhà máy ở Bình Dương, Đồng Nai hay Bắc Ninh đang có bài toán giống đến lạ. Công việc được chia nhỏ và lặp lại, còn khu công nghiệp bên cạnh lúc nào cũng treo băng rôn tuyển người. Không ít nơi vẫn làm đúng điều Ford làm năm 1913: tuyển liên tục để lấp chỗ trống, mà chưa ai tính xem vòng quay ấy tốn bao nhiêu.




